tuệ sỹ

Phong nhiêu hoá sự sống bằng cái chết

  • Đào Nguyên Dạ Thảo

Không giống như nhiều quốc gia khác trên thế giới, ở Mexico cái chết không phải là điều đáng tiếc, người chết được tổ chức lễ hội “Ngày của người chết”. Nghe có vẻ lạ đối với người nước ngoài nhưng ở Mexico, cái chết và cuộc sống gắn bó chặt chẽ với nhau như bức tranh Dream of The Bed (1940), Frida Kahlo vẽ bày tỏ cảm giác về cái chết.

 The Dream (The Bed), 1940, Frida Kahlo

Ngoài đời thật, Frida đặt một bộ xương trên giường ngủ. Trong bức tranh cả Frida và bộ xương cùng nằm trên giường. Trong khi Frida đang ngủ say ở dưới, thì bộ xương vẫn thức và quan sát từ trên. Bộ xương cũng có dây nối với chất nổ có thể phát nổ bất cứ lúc nào. Trên cơ thể Frida có những cây xanh quấn quanh là biểu tượng của sự sống và tái sinh. Những đám mây nền bồng bềnh cho thấy chiếc giường đang lơ lửng trên bầu trời.

Nguyễn Đức Sơn, Sao Trên Rừng, mơ một giấc mơ phiêu lãng trong Mộng Du Trên Đỉnh Mùa Xuân.

“Tôi vốn mộng du từ vô chung vô thủy
 Trên vùng đất thánh của trần gian”

Tuệ Sỹ từ nguyên sơ

“Buổi vô thủy hồn tôi từ đáy mộ
 Uống sương khuya tìm sinh lộ viễn trình”

Sơn Núi phiêu lãng trong lúc mộng du

“Chúng tôi đi qua rất nhiều đồi núi
Chúng tôi đi qua rất nhiều thành phố
Nhà thờ và chùa chiền trên muôn triệu tinh cầu”

Tuệ Sỹ lang thang

“Ôi những lối đi, những khoảng trống diệu kỳ
Trông chờ khoảnh khắc ban mai chợt tắt
Bóng tối hoang sơ chôn người chết ngạt
Ta đi mãi, đi tìm bến bờ vĩnh cữu.”

Đồi Phương Bối tháng 1 năm 2013 (Ảnh: Phương Bối cung cấp)

Thầy Tuệ Sỹ và Nguyễn Đức Sơn là một đôi bạn thân tình trải qua hơn nửa thế kỷ. Trong tập thơ Thơ và Đá của Nguyễn Đức Sơn xuất bản năm 2019, Thầy Tuệ Sỹ viết trong Lời tựa:

“… lang thang độc hành trên đoạn đường thiên lý, tôi ghé thăm Sơn Núi, bước nhầm nhà; được xua đuổi như một kẻ bán nhang lường gạt. Tôi nhầm nhà, bởi vì đi tìm một Sơn Núi chưa từng hiện hữu; bị xua đuổi như một kẻ lường gạt, bởi đi tìm đâu đó một ngôi sao vọng tưởng như vẫn còn lấp lánh trên rừng già âm u ma quái.

Tôi đã hư cấu một huyền thoại hoang đường từ một con người quái dị, trải qua những thăng trầm bi kịch sinh tồn. Mỗi một con người tự đắm mình, chìm nổi, trong dòng sông sử tính của bi kịch sinh tồn. Nhìn lên quãng không gian hư vô bàng bạc, nó tự gán định mệnh của mình vào một ngôi sao bất thực. Sao Trên Rừng, lẻ loi, cô độc, soi bóng trong giọt sương mong manh trên đầu ngọn cỏ, tìm đâu ý nghĩa tồn tại của nhân sinh:

Mai sau tắt lửa mặt trời,

Chuyện linh hồn với luân hồi có không?

Suốt buổi sáng hôm ấy, anh vẫn nói liên tục, và tôi vẫn lang thang với những ý tưởng mơ hồ trong hai câu thơ mà không biết ai đã đọc cho nghe.

Rồi 50 năm sau, tôi từ bóng tối tử tù bước ra, để cùng anh lang thang trên các đường phố Saigon đầy rác và bụi bằng chiếc xe thổ mộ từ thời tiền sử của anh; nó sẵn sàng vứt tôi xuống đường như một định mệnh mù quáng nào đó đã ném tôi và anh vào giữa cuộc tồn sinh mà anh nguyền rủa bằng những ngôn từ phạm thánh. Anh tự gọi mình là Sao Trên Rừng, trong buổi đầu, với những thắc mắc siêu hình, như một ngôi sao lẻ loi, cô tịch, in dấu tồn sinh mà loài người vừa mới ra khỏi bóng tối tịch mịch man dại của sử tính, từng bước đấu tranh sinh tồn, tâm tính hồn nhiên như giọt sương mai trên nụ hoa hồng trong nắng sớm. Chỉ trong thoáng chốc, sử tính tàn bạo trong tia nắng, giọt sương mai chảy tan, nước mắt và máu nhuộm màu gót chân lịch sử, từng dấu ấn khổ lụy nhân sinh.”

….

Tuệ Sỹ lang thang lên Phương Bối thăm Sơn Núi trên đoạn đường Thiên Lý Độc Hành, tháng 1 năm 2013 – ảnh của Thích Ngộ Chánh cung cấp

Qua Nguyễn Đức Sơn, tôi được gặp Thầy Tuệ Sỹ ở Thị Ngạn Am trong chùa Già Lam năm 2001. Một buổi sáng không hẹn trước nhưng nghe tiếng Sơn Núi nói oang oang ở ngoài phòng khách, Thầy bước ra từ phòng sách cũng là nơi làm việc của Thầy với ánh mắt sáng quắc ngạc nhiên và nụ cười hiền từ rạng rỡ chào đón đám khách thập phương. Thầy rất bình dị, mặc bộ đồ lam, đi chân trần, ngồi dưới chiếu rót trà mời mọi người.

Lần đầu viếng Thị Ngạn Am, tháng 7 năm 2001.

Đến 11 giờ Thầy phải lên chánh điện làm lễ, cả nhóm xuống sân chùa đứng dưới một tán cây rộng, điểm những bông hoa thật lớn. Tôi thắc mắc không biết cây gì đây? Sơn Núi cho biết là cây Vô Ưu. Nghe cái tên thật lạ! Nhìn cái cây và trong đầu nghĩ đến hình ảnh gầy gò của Thầy bước trên những bậc thang lên chánh điện thì đó là một bức tranh tương quan nhưng phản nghịch nhau. Mọi người chưa ai muốn về, nên ngồi chờ Thầy xong lễ ra, ngay giữa trưa Sài Gòn nắng chói chang, trên bậc thang cao chót nổi bật chiếc y vàng uy nghi lồng lộng trong gió của Thầy chiếm một khoảng giữa trời xanh như một bức tượng lừng lững. Thầy vẫn nhẹ bước xuống hỏi, “Chưa về sao” Thế là Thầy bị bắt đứng lại chụp hình mà lúc đó không ai để ý là vợ chồng Sơn Núi đang ngồi sẵn trước trên ghế đá, Thầy đứng sau. Như vậy là không phải phép, tuy vậy Thầy vẫn không câu nệ. Thầy còn chọc quê Sơn Núi “Mặc sao qua khỏi áo Thầy mà mong” khi Sơn Núi cố tình giành quyển thơ Hồ Xuân Hương với Thầy.

Sân chùa Già Lam, dưới tán cây Vô Ưu, 2001

Thị Ngạn Am là căn phòng trên lầu 2, trong dãy nhà ngang của chùa Già Lam, từ balcony nhìn xuống là khu vườn, hàng rào hoa bìm bịp leo kín bao quanh. Trên balcony có treo vài chậu lan, có cái võng, một bàn trà và mấy cái gối ngồi dưới sàn. Dưới vườn là mồ mả, những bia mộ xây bằng đá tổ ong xưa nằm ngã xiêu vẹo, mưa nắng qua thời gian loang lổ, Thầy đọc cho nghe mấy câu thơ Thầy làm vào một buổi sáng tinh sương thức dậy khoảng 4 giờ sáng nhìn ra khu vườn:

“Giăng mộ cổ mưa nhiều hoen ngấn lệ
Bóng điêu tàn, Huyền sử đứng trơ vơ
Sương thấm lạnh, làn vai hờn nguyệt quế
Ôm tượng đài, yêu suốt cõi hoang sơ”

Tôi hỏi Thầy, “không hiểu nguyệt quế ở đây có nghĩa gì? Thường nghe chữ vòng nguyệt quế là dây lá quấn thành vòng như cái mão, người Hy Lạp cổ xưa dùng để đón chào những anh hùng thắng trận trở về?” Thầy giảng thơ, “cũng chỉ là một loại cây cỏ dùng làm hương liệu, nhưng bất chợt hình ảnh vinh quang hiện lên từ cành nguyệt quế. Một sinh vật mong manh, nhưng lại khoác lên vai vành nguyệt quế choàng lên hai vai thanh xuân, một thứ vinh quanh lạnh lùng. Thời gian đến và đi để lại trên tâm tư những hoài niệm không nắm bắt được nên có một chút hờn giận vì đã đánh mất thanh xuân cho cái vinh quang lạnh lùng đó.”

Balcony trước Thị Ngạn Am, 2008

Có những hôm tôi ghé qua thăm Thầy gặp lúc trời mưa, Thầy kéo cái mành tre ngoài balcony xuống che mưa, trong lúc ngồi uống trà chờ mưa tạnh nghe Thầy kể chuyện từ những chuyện trong huyền thoại Ấn Độ như “chuyện con rắn hóa thân của sông Ngân, từ trên cao đổ xuống trần gian thành sông Hằng linh thiêng ngủ im dưới chân Hy Mã Lạp Sơn. Cũng có lúc nó nổi phong ba cuồng thịnh nhận chìm mọi thứ chung quanh, nhưng nó lại mang dòng nước thánh rửa sạch mọi tội lỗi của người đời có tên Ganganadi là tên Sanskrit của sông Hằng. Rồi qua truyền thuyết của Hy Lạp phía Nam sông Ngân có người thợ săn Orion, dắt con chó nhỏ đi tìm để bắn gục đại bàng đang cố vượt sông Ngân theo lệnh của Zeus xuống tìm Prometheus để moi gan. Con đại bàng không muốn chết trong dòng nước lạnh kia nên cố bay về phía Promethe (có nghĩa là “tầm nhìn xa”), Prometheus là một nhân vật trong thần thoại Hy Lạp, người bị các vị thần trừng phạt vì dám ăn trộm lửa từ thiên đường để trao cho con người. Sông Ngân trong tình sử Trung hoa có chiếc cầu Ô Thước chỉ được bắc qua vào đêm thất tịch với những trận mưa Ngâu, để chàng Ngưu Lang bên này cầu dắt trâu ra bến sông cho uống nước, để sang bờ bên kia, gặp Chức Nữ, cô gái dệt lụa, đang ngồi bên khung cửi. Câu chuyện có liên quan đến các sao Chức Nữ và sao Ngưu Lang, dải Ngân Hà và hiện tượng mưa ngâu.”

Thầy nói, những ngày sau tháng Tư 1975, Thầy đi làm rẫy ở Vạn Giã, cách Nha Trang khoảng 60 km. Từ quốc lộ 1 đi vào, qua các đường ruộng quanh co, khoảng gần 10 km, sát dưới chân núi Trường Sơn. Có đêm Thầy lên đỉnh đồi, ngắm các vì sao vận chuyển, nhìn lên hướng sông Ngân, và đọc các huyền thoại trên khắp bầu trời qua các vì sao.

À thì ra, Thầy kể chuyện qua trí tưởng tượng nhìn từ các vì sao. Liên kết lại những câu chuyện thần thoại giả tưởng của Thầy kể, tôi nhận ra Thầy đang mở cho tôi một thế giới huyền bí tư duy siêu thực, là nơi không có sự hiện hữu nhìn thấy bằng mắt, sờ được bằng tay, chỉ có thể bằng tư duy tĩnh tại. Nghĩa là tư duy trong trạng thái tâm thức bất động.

Nhưng Thầy cũng có những chuyện rất đời thường như Thầy muốn viết một truyện ngắn khi thỉnh thoảng từ Vạn Giã đi về Nha Trang bằng xe lửa, ngồi quan sát hành khách sinh hoạt trên các chuyến xe đã để lại những ấn tượng được tích lũy dần dần trở thành câu chuyện hư cấu trong đầu nhưng Thầy chưa viết ra, có tựa là Chuyến Tàu Tốc Hành. “Chuyến tàu hỏa đang lao dần vào tai họa khủng khiếp, nhưng mọi người trên tàu đều không ai biết tai họa sắp xảy đến nên vẫn sống thản nhiên. Những nhân vật trong toa tàu có một người đàn bà đi buôn; một cặp tình nhân trốn nhà đi tìm hạnh phúc riêng; một bọn người trộm cắp, móc túi; một nhóm con nít chen lấn giành chỗ ngồi; một anh thầy giáo đeo mắt kính dầy cộm đọc sách; một ông lão hành khất ngồi ngủ gục trên sàn… Tất cả chuyện vụn vặt hoặc được xem là lớn lao của cuộc sống hàng ngày đang diễn ra trong một toa tàu như một xã hội thu nhỏ. Đôi khi căng thẳng lắc lư theo con tàu, đôi khi im ắng khi ai cũng mỏi mệt ngủ thiếp. Tất nhiên không ai trong bn họ biết mình đang trên con tàu sắp lao vào tai họa khủng khiếp. Quả địa cầu này chính là một chuyến tàu tốc hành.”

Trời vẫn còn mưa, tôi ngồi nán lại nghe Thầy kể tiếp chuyện trong tù. Lúc Thầy bị kết án tử hình, đối diện với sự chết và sẵn sàng dọn mình chờ chết, nhưng rồi sống lại trong suốt 15 năm giữa bốn vách tường thế giới bên ngoài không hiện thực. Hồi ở tù, không có giấy viết, nên làm thơ rồi học thuộc lòng từng câu. Để không ai đọc được, Thầy làm thơ bằng chữ Hán rồi tìm vật gì cứng viết lên tường hay dưới sàn nhà. May mà khi trở về Thầy còn nhớ mới ghi chép lại được Ngục Trung Mị Ngữ. Bốn năm đầu trong nhà tù, bị cấm đọc bất cứ thứ gì. Ghiền đọc quá, Thầy phải lén giấu từng mảnh giấy báo vụn, kể cả mẩu quảng cáo trong giấy gói đồ thăm nuôi gởi vào cũng giấu để đọc. Sau đó có dễ dãi hơn một chút, được phép đọc sách, nhưng rất hạn chế, dĩ nhiên là nội dung sách đã được kiểm duyệt mới cho phép đem vào. Chỉ có sách toán gởi vô là không sao nên để giết thì giờ Thầy giải toán suốt ngày. Nhờ vậy mà Thầy học hết các sách toán Đại học của Hà Nội xuất bản.

Năm năm cuối ở trại Nam Hà ngoài Bắc, có khá hơn là được phép đọc sách nước ngoài. Cán bộ cảnh vệ đem cho mượn cuốn Chiến Tranh và Hòa Bình bằng tiếng Pháp, đọc không hiểu nhiều vì không có tự điển; nhưng đọc đi đọc lại, từ từ nhớ ra. Sau đó đọc trọn bộ một cách thoải mái. Từ đó, nhận được sách tiếng Anh, Pháp, Nhật do người nhà đi thăm nuôi gởi cho mới nhớ lại dần dần. Nhờ vậy, khi trở về, không đến nỗi nào quên hết.

Thầy Tuệ Sỹ thăm Làng Nghệ sỹ năm 2003.

“Quảy gánh giang hồ” là chữ của Thầy, tôi chỉ mạo muội dùng để nhắc lại hành trình Thiên Lý Độc Hành. Thầy đi bộ lang thang nhiều tháng trời rong ruổi qua nhiều thành phố, làng mạc; ngủ vệ đường, ngủ trong rừng, trong miếu hoang bên đèo, hay ngủ ở những quán trống bên đường. Có đêm mắc võng trong rừng, giữa khuya thấy có con gì bò ấm ấm nằm dưới lưng mà không biết là thú dữ hay hiền nên Thầy phải nằm im không dám nhúc nhích cho đến khi trời sáng nó tự bỏ đi Thầy mới dám ngồi dậy xếp võng đi tiếp. Có lần trời sập tối Thầy đang đi bộ trên đèo vắng có anh chạy xe gắn máy ngang, ngừng lại nói Thầy lên xe anh cho đi nhờ, lúc đầu Thầy từ chối, nhưng anh nói trời sắp mưa và trên đoạn đường này không có chỗ trú mưa. Thế là Thầy lên xe, anh chở vào rừng nơi có một cái chòi nhỏ. Thầy cũng mắc võng ngủ bên trong, sáng sớm thức dậy nghe loáng thoáng có mấy người đến bàn chuyện làm ăn, biết họ là nhóm lâm tặc, Thầy giả đang ngủ coi như không nghe không thấy gì hết. Thầy nói, “họ biết mình thức nghe việc họ làm, họ tưởng mình trà trộn vào theo dõi họ dám thủ tiêu mình lắm.”

Mục đích Thầy đi lang thang vậy để làm gì? Câu hỏi có nhiều người hỏi và tự tìm câu trả lời theo cái nghiệm ra của mỗi người. Câu trả lời của Thầy là 13 bài thơ trong tập thơ Thiên Lý Độc Hành Thầy viết sau chuyến hành trình dài này.

Tháng 5 năm 2013, trên đường Thiên Lý Độc Hành, Thầy dừng chân nơi phòng tranh Đào Nguyên để xem triển lãm “Đà Lạt Nỗi Nhớ” của họa sỹ Đinh Cường từ Mỹ về.
Thầy đang đi bộ trước nhà sách Phương Nam, khu Hòa Bình Đà Lạt – hành trang của Thầy là cái ba-lô cột cái võng bên cạnh. Ảnh chụp từ trên lầu phòng tranh của Đào Nguyên Dạ Thảo
Tranh Đào Nguyên Dạ Thảo, 2019.

Khuya ngày 23 tháng 11 năm 2023, tôi lái xe xuyên đêm từ Houston về California, trời càng về khuya sao càng lấp lánh rợp trời. Vào khoảng rạng sáng ngày 24 xe đang chạy ngang qua sa mạc, bỗng dưng tôi và cậu em ngồi bên cạnh cùng sững sốt la lên “nhìn kìa, một ngôi sao băng”. Một ngôi sao sáng thật lớn từ trời sa xuống ngang qua mắt mình, theo sau là một đường băng sáng dài như đuôi sao chổi. Lần đầu tiên tôi thấy hiện tượng này xảy ra ngay trước mắt, thật lạ lùng. Xưa nay người ta tin rằng khi một linh hồn vừa lìa khỏi xác thì ngôi sao bản mệnh của người đó sẽ băng theo. Khoảng 1 giờ sau đến một trạm dừng để đổ xăng và nghỉ chân, vừa mở điện thoại thì nghe chuông báo tin nhắn, mở ra đọc tin nhắn của Phương Bối, “Ôn Tuệ Sỹ vừa viên tịch lúc 4h chiều nay, 24 tháng 11, 2023”. Tôi giật bắn cả người khi tính thời gian tôi nhìn thấy ngôi sao băng và thời gian Thầy mất thì gần như khớp với nhau.

Từ lúc đó trên đường lái xe tôi cứ ngước mắt nhìn lên bầu trời đêm phía trước, thấy hàng triệu triệu vì sao như những chấm nhỏ lăn tăn, nhưng tôi cứ cố dõi mắt theo một ngôi sao sáng nhất mà nghĩ về những khoảnh khắc bên Thầy. Lúc ngồi uống trà ngoài balcony ở Thị Ngạn Am; đi thăm Làng Nghệ sỹ ở Thủ Đức; lễ Tết giao thừa ở Nagoya trong thiền viện Tokurinji (Đức Lâm) đầu năm 2020; ngồi vẽ chân dung Thầy Tuệ Sỹ và Thầy Takaoka Shucho; cùng phác thảo ý tưởng làm cuốn thơ Thiên Lý Độc Hành; cùng đi tham bái tượng Phật và các chùa ở Nara với thầy Hạnh Viên và anh Bùi Chí Trung; cuối năm 2022 về Việt Nam cùng Thầy sửa bản thảo cuốn Ngục Trung Mị Ngữ ở chùa Phật Ân; và lần cuối cùng là đi thăm Thầy trong bệnh viện ngày 24 tháng 11 năm 2022, đúng một năm trước ngày Thầy viên tịch.

Thầy đã đi xa 2 năm rồi, mỗi khi nhìn lên bầu trời bao la đầy sao, tôi thấy khoảng trống chân không đen thẫm, hút sâu vào màn đêm. Có một linh hồn đã được biến hóa thành một ngôi sao xa vời vợi. Trên đại dương miên man nơi tro bụi của Thầy đã ngưng tụ thành đốm sáng, đó lại là sự phản chiếu của ngôi sao lấp lánh luôn sáng trên cao kia. Thầy đang du hành vào thế giới hay vũ trụ nào đó chẳng biết, nhưng ở thế gian này Thầy vẫn còn để lại một di sản, một kho báu vô cùng quý giá cho chúng ta hôm nay và cho thế hệ mai sau.

*

Portrait of Luther Burbank, 1931

Kết thúc cho bài viết tưởng nhớ Thầy nhân ngày lễ Đại Tường, tôi dùng hình ảnh minh họa bức tranh Portrait of Luther Burbank (1931) của nữ họa sỹ Mexican, Frida Kahlo (1907-1954), vẽ người làm vườn nổi tiếng với việc trồng các loại rau và trái cây lai giống khác thường. Burbank được vẽ một nửa là người đàn ông và nửa còn lại là cây. Phần dưới của ông được hiển thị dưới dạng thân cây và rễ được nuôi dưỡng bằng chính thân xác đã chết của ông. “Phong Nhiêu Hóa Sự Sống Bằng Cái Chết”.

  • Đào Nguyên Dạ Thảo